KẾ HOẠCH CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN BỘ MÔN GIÁO DỤC HỌC GIAI ĐOẠN 2015 - 2020


Phần 1.  GIỚI THIỆU CHUNG         


Bộ môn  Giáo dục học là một trong những  bộ môn có bề dày lịch sử so với các tổ bộ môn khác trong khoa Giáo dục.  Ngay sau khi thành lập (1959),  trường ĐHSP Vinh  đã có một cán bộ thỉnh giảng Tâm lý học- Giáo dục học. Đến năm 1962, bộ môn Tâm lý học – Giáo dục học được thành lập.

Từ đó đên nay, trải qua 58 năm xây dựng và phát triển, cùng với sự lớn mạnh và phát triển của Trường Đại học Vinh, Bộ môn Giáo dục học cũng phát triển không ngừng. Hiện tại Bộ môn có 5 cán bộ giảng dạy, trong đó có 1 PGS giảng viên cao cấp, giảng viên chính ThS, 1 GV TS, 1 giảng viên đang  làm NCS, 1 GV ThS.

Các lĩnh vực hoạt động:

Qua gần 60 năm xây dựng và trưởng thành, Bộ môn  GDH đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển của khoa nói riêng, của trường ĐH Vinh nói chung. Những đóng góp đó được thể hiện qua các mặt sau:

- Về hoạt động đào tạo :

Ngay từ khi mới thành lập, trong điều kiện thiếu thốn trăm bề, từ tài liệu giảng dạy, giáo trình cho SV, thiếu cán bộ...,cán bộ trong bộ môn đã khắc phục mọi khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy của mình. Trên các nẻo đường của hai tỉnh Nghệ An, Thanh Hoá đã in dấu chân  các thầy cô của trường ĐHSP Vinh nói chung, của bộ môn GDH nói riêng. Ngoài việc giảng dạy cho SV trong trường, các cán bộ chủ chốt của tổ đã tham gia giảng dạy cho các trường như: CĐ KT III, các lớp bồi dưỡng giáo viên do Ty giáo dục Nghệ An tổ chức. Một số cán bộ đi chuyên gia ở Châu Phi...

Hiện nay, trong bối cảnh đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, xu thế phát triển của nhà trường, của khoa GD, cán bộ của bộ môn GDH đã đảm nhiệm nhiều học phần giảng dạy khác nhau cho SV các ngành sư phạm trong trường, các học phần chuyên ngành GDH tiểu học, GDH mầm non, các chuyên đề đào tạo học viên cao học chuyên ngành Quản lý giáo dục, Giáo dục học tiểu học, Giáo dục học mầm non. Một số cán bộ tham gia đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ, một số tiến sĩ do giảng viên của bộ môn hướn dẫn đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ.

  Thực hiện chủ trương của nhà trường về đổi mới chương trình đào tiếp cận CDIO, Bộ môn đã xây dựng chương trình đào tạo, biên soạn đề cương bài giảng, đề thi đánh giá theo tiếp cận này.

Bộ môn Giáo dục học cũng là bộ môn chủ công trong rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV sư phạm trong trường.

-Về công tác nghiên cứu khoa học:

Nghiên cứu khoa học là hoạt động đặc thù của trường đại học và là vấn đề được tổ rất quan tâm. Trong những năm70, 80 mặc dù đời sống rất khó khăn nhưng cán bộ của tổ vẫn đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học. Nhiều bài báo của cán bộ đã được đang ở nội san của trường. Nhiều đề tài nghiên cứu khoa học đã được hoàn thành

Trong những năm gần đây, cán bộ của bộ môn GDH đã chủ trì và thực hiện thành công nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, cấp trường. Hiện tổ đang tiếp tục chủ trì 2 đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường.   Nhiều  bài báo của cán bộ trong bộ môn được đang tải trên các tạp chí chuyên ngành của Trung ương, tạp chí Khoa học của trường và các Hội thảo khoa học quốc gia, quốc tế.

Cùng với việc giảng dạy, cán bộ của tổ GDH đã tích cực tham gia biên soạn tài liệu giáo trình. Đây cũng là điều kiện quan trọng để nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ của tổ.  Những cuốn giáo trình đầu tiên đầu tiên do do hội đồng bộ môn TLH-GDH biên soạn đều có sự tham gia của các cán bộ tổ GDH trường ĐHSP Vinh. Ngay từ những năm 1966- 1975, trong điều kiện khó khăn gian khổ của chiến tranh, các cán bộ giảng dạy của tổ hàng năm vẫn liên tục biên soạn các giáo trình in rônêô  theo yêu cầu chỉnh sửa của Bộ và của trường. Nhiều tài liệu chuyên ngành giáo dục học bằng tiếng Nga, tiếng Pháp được các cán bộ trong tổ dịch ra tiếng Việt để làm tài liệu giảng dạy. Qua sách báo, tài liệu tiếng Nga và từ thực tiễn của nhà trường Việt Nam, tổ đã biên soạn các bài tập thực hành Giáo dục học cho SV.

Từ năm 1995 đến nay, để đáp ứng với qui mô đào tạo của nhà trường, với chức năng, nhiệm vụ của khoa GD, nhiều cán bộ của tổ đã tham gia biên soạn và xuất bản các giáo trình phục vụ cho việc giảng dạy và học tập của SV sư phạm trong trường và chuyên ngành giáo dục tiểu học. Nhiều giáo trình do cán bộ của tổ biên soạn được chọn là giáo trình  học tập chính cho SV.  

Ngoài việc biên soạn giáo trình cho SV, các cán bộ của bộ môn đã biên soạn giáo trình đào tạo Cao học thạc sỹ chuyên ngành Quản lý giáo dục, Giáo dục học (bậc tiểu học, bậc mầm non).  

-Về công tác bồi dưỡng và tự bồi dưỡng chuyên môn: 

Ngoài hoạt động đào tạo, Bộ môn tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên, cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục phổ thông, bồi dưỡng nâng ngạch giáo viên từ mầm non đến giảng viên đại học.

Đây có thể được xem là công việc sống còn của bộ môn ngay từ những ngày đầu thành lập (1960). Trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn trăm bề, các cán bộ của tổ vẫn không ngừng học hỏi, phấn đấu vươn lên, say mê với chuyên môn của mình.  Trong  thời kỳ  mới thành lập, tổ đã tiến hành bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ thông qua các hình thức như : học tập văn hoá; học ngoại ngữ, (nhờ đó mà nhiều cán bộ đã đọc được tài liệu chuyên ngành từ tiếng Nga và có điều kiện đi chuyên gia Châu Phi); thuyết trình chuyên môn trong tổ theo các chuyên đề...

Một hình thức bồi dưỡng cán bộ  mà tổ rất quan tâm đó là dự giờ thăm lớp. Hình thức này được tiến hành thường xuyên hàng  tháng, có tác dụng tốt đối với các cán bộ trẻ.

-Về khen thưởng:

Bộ môn Giáo dục học đã được tặng Bằng khen của Chính phủ, một số cá nhân được tặng bằng khen của Chính phủ, Bộ giáo dục và Đào tạo, Tổng liên đoàn lao động Việt nam, Công đoàn giáo dục Việt Nam.

                 Phần 2. ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG                                         

1. Về đào tạo                                                  

1.1. Điểm mạnh

- Bộ môn Giáo dục học giảng dạy các học phần nghiệp vụ sư phạm cho SV các ngành sư phạm trong trường, các học phần nghiệp vụ cơ sở ngành và chuyên ngành cho SV ngành  giáo dục tiểu học và giáo dục mầm non, quản lý giáo dục.

- Bộ môn đã xây dựng hoàn chỉnh chương trình chi tiết cho tất cả các học phần được phân công đảm nhiệm trên cơ sở chương trình khung của Trường Đại học Vinh. Chương trình đào tạo có mục tiêu rõ ràng, cụ thể; có nội dung hiện đại và cập nhật, được thiết kế hợp lí; định kì được điều chỉnh trên cơ sở kế hoạch của Nhà trường.

- Phương pháp giảng dạy được bộ môn chú trọng đổi mới theo hướng phát triển năng lực người học, tăng cường ứng dụng CNTT nhằm đổi mới PPGD.

- Bộ môn có đủ giáo trình, tài liệu tham khảo cho hoc viên, sinh viên (cả bài giảng tự biên và giáo trình, tài liệu tham khảo được xuất bản).

Bộ môn  có ngân hàng đề thi của các học phần đào tạo đại học và Sau đại học. Bộ môn sử dụng hình thức thi và kiểm tra trắc nghiệm khách quan trên máy tính cho học phần Giáo dục học.

- Đội ngũ giảng viên của Bộ môn đạt chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ với 60% giảng viên có trình độ thạc sĩ, 40% giảng viên có trình độ tiến sĩ.

1.2. Tồn tại

- Thời lượng của học phần Giáo dục học (Dành cho SV các ngành sư phạm) còn ít và bất cập so với yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay, đặc biệt là khi chương trình giáo dục phổ thông sắp được triển khai.

- Một số học phần chưa có giáo trình do giảng viên của Bộ môn biên soạn. Việc cập nhật các thông tin khoa học của thế giới còn chậm. Nội dung chương trình đào tạo một số ngành còn bất cập so với sự phát triển của khu vực và thế giới.

- Phương pháp giảng dạy của giảng viên và phương pháp học tập của sinh viên chưa thật sự thích ứng với phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ.

1.3. Cơ hội

- Bộ giáo dục và đào tạo đang quy hoạch mạng lưới các trường sư phạm, trong đó quan tâm đến vấn đề đào tạo và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV

- Trường Đại học Vinh đang tiến hành đổi mới một cách sâu rộng như tái cấu trúc Nhà trường, đổi mới chương trình đào tạo tiếp cận CDIO... đã quan tâm đến đào tạo nghiệp vụ sư phạm.

- Khoa Giáo dục là khoa đặc thù về đào tạo và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của trường, trong đó Tâm lý học – Giáo dục học là nòng cốt. Vì vậy Bộ môn luôn nhận được sự quan tậm của lãnh đạo Khoa.

1.4. Thách thức

- Yêu cầu của xã hội về chất lượng đào tạo tay nghề của GV ngày càng tăng, đòi hỏi Bộ môn phải không ngừng đổi mới nội dung, phương thức đào tạo và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.

- Nhà trường, Khoa đang có những đổi mới về mọi mặt đòi hỏi Bộ môn phải đổi mới mọi phương diện để đáp ứng yêu cầu này.

- Số lượng giảng viên chưa tương xứng với khối lượng công việc bộ môn đang đảm nhiệm. Một số giảng viên có trình độ, kinh nghiệm nhưng sắp đến tuổi nghỉ chế độ.

2. Về nghiên cứu khoa học

2.1. Điểm mạnh

Hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ môn luôn được đẩy mạnh. Đội ngũ giảng viên đa phần có tiềm lực nghiên cứu. Trong những năm qua nhiều đề tài cấp Bộ cấp Trường đã được triển khai và được ứng dụng vào thực tiễn giảng dạy trong trường và ngoài trường. Hàng trăm bài báo của giảng viên trong Bộ môn được đăng tải trên các tạp chí trong nước và các hội thảo quốc gia, quốc tế.

Một số cán bộ tham gia hướng dẫn sinh viên NCKH. Trong những năm qua đã có 32 đề tài nghiên cứu khoa học của SV đạt giải SV NCKH cấp Bộ. Một số cán bộ của Bộ môn hướng dẫn thành công 3 NCS bảo vệ thành công luận án TS, hàng chục luận văn thạc sĩ được bảo vệ thành công, tích cực viết bài và tham gia các hội thảo khoa học quốc gia, quốc tê.

- Sinh hoạt học thuật được duy trì và đẩy mạnh trong Bộ môn.

2.2. Tồn tại

- Số cán bộ khoa học có uy tín của Bộ môn đều ở độ tuổi cao. Ít  nhà khoa học của Bộ môn tham dự và báo cáo tại các hội thảo khoa học quốc tế.

- Số công trình được đăng trên các tạp chí quốc tế chưa có.

2.3. Cơ hội

- Nhà trường đổi mới cơ chế quản lí hoạt động khoa học công nghệ và phân bổ kinh phí nghiên cứu khoa học theo năng lực, trình độ đội ngũ cán bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nghiên cứu khoa học.

- Bộ môn Giáo dục học có nhiều lợi thế trong nghiên cứu khoa học giáo dục.

- Cùng với xu thế đổi mới giáo dục của đất nước, các nhà khoa học của Trường nói chung, của Bộ môn nói riêng có cơ hội giao lưu, hợp tác, trao đổi học thuật, liên kết nghiên cứu với các nhà khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước. Đây là cơ hội giúp cho đội ngũ cán bộ khoa học của Bộ môn nâng cao năng lực và trau dồi kiến thức.

2.4. Thách thức

- Một số giảng viên trẻ kinh nghiệm NCKH giáo dục chưa nhiều

- Nhu cầu về NCKH giáo dục hiện nay cao nhưng đội ngũ còn hạn chế về số lượng và kinh nghiệm.

- Xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng, nhất là hợp tác quốc tế về đào tạo và NCKH, Trường Đại học Vinh phấn đấu là thành viên của các trường đại học Đông Nam A, trong khi đó trình độ ngoại ngữ đa phần chưa đáp ứng được yêu cầu.

3. Về tổ chức và nhân sự

3.1. Điểm mạnh

- Bộ môn có đội ngũ giảng viên đạt chuẩn về trình độ (40% là tiến sĩ, 06%% là thạc sĩ, 1 PGS GVCC, 1 GVC,), đáp ứng yêu cầu giảng dạy và nghiên cứu khoa học; cán bộ quản lý bộ môn có phẩm chất đạo đức và năng lực, giúp Khoa quản lí và tổ chức tốt các hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học.

- Nhà trường và Khoa có chính sách khuyến khích, hỗ trợ đội ngũ cán bộ, giảng viên trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.

Bộ môn thường xuyên tổ chức dự giờ thăm lớp các tiết đăng kí dạy mẫu của giảng viên.

- Việc học tập nâng cao trình độ chuyên môn, bồi dưỡng giảng viên trẻ được bộ môn chú trọng thông qua các hình thức đa dạng như: dự giờ, thăm lớp, xêmina, sinh hoạt học thuật, tham dự hội nghị, hội thảo khoa học...

- Việc đánh giá, xếp loại cán bộ viên chức được tiến hành hàng tháng được tiến hành công khai, minh bạch

3.2. Tồn tại

- Bộ môn đang trong tình trạng hẫng hụt giảng viên, số lượng còn chưa tương xứng với  khối lượng công việc đảm nhiệm (đào tạo NVSP cho SV, giảng dạy các môn chuyên ngành giáo dục tiểu học, mầm non, bồi dưỡng giảng viên, cán bộ QLGD, bồi dưỡng nâng ngạch nhà giáo...; nguồn tuyển dụng khó khăn).

- Trình độ ngoại ngữ của cán bộ, giảng viên tuy đã được chú trọng bồi dưỡng trong nhiều năm qua nhưng chưa thực sự đáp ứng yêu cầu về giao tiếp, hợp tác với nước ngoài.

3.3. Cơ hội

- Bộ môn nhận được sự quan tâm của lãnh đạo Nhà trường, lãnh đạo Khoa.

- Nhiều cơ hội học tập, nghiên cứu ở trong và ngoài nước cho giảng viên để nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ, năng lực NCKH.

3.4. Thách thức

- Bối cảnh đổi mới giáo dục đại học hiện nay đòi hỏi các trường đại học phải không ngừng phát triển đội ngũ.

- Nhà trường, Khoa Giáo dục đang đổi mới mạnh mẽ, sâu sắc trong mọi lĩnh vực đòi hỏi mỗi cán bộ của nhà trường nói chung, của bộ môn Giáo dục học nói riêng phải tự học, tự bồi dưỡng để đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ trong bối cảnh mới.

 Phần 3. SỨ MẠNG, TẦM NHÌN, MỤC TIÊU

1. Sứ mạng

Bộ môn Giáo dục học là nơi đào tạo, và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên trong trường,  bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục phổ thông, giảng viên, là nơi nghiên cứu khoa học giáo dục, đáp ứng yêu cầu về chất lượng đào tạo bồi dưỡng của khoa Giáo dục và của Trường Đại học Vinh.

2. Tầm nhìn

Đến năm 2020, Bộ môn Giáo dục học là trung tâm đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm của Trường Đại học Vinh, có đội ngũ cán bộ đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng, phù hợp về cơ cấu, đáp ứng với quy mô đào tạo của Nhà trường,  phát triển hướng nghiên cứu khoa học giáo dục ứng dụng, đáp ứng yêu cầu phát triển của Khoa và Trường.

3. Mục tiêu chiến lược

3.1. Về đào tạo

Đến năm 2020, Bộ môn Giáo dục học có quy mô và chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu nhân lực và phát triển của nhà trường.

Mục tiêu 1: Nội dung, phương pháp giảng dạy được đổi mới

Giải pháp 1.1: Đổi mới nội dung theo tiếp cận CDIO, cập nhật những tri thức tiên tiến, hiện đại về khoa học giáo dục ở thế giới và Việt Nam. Chương trình đào tạo, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm được đổi mới, thống nhất với chương trình đào tạo, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của các trường sư phạm trọng điểm trong nước. Đổi mới các chương trình, học phần bồi dưỡng GV, CBQL giáo dục.  

Giải pháp 1.2: Đổi mới phương pháp dạy và học theo định hướng phát triển năng lực người học, tăng cường tự học, tự nghiên cứu, chú trọng rèn luyện kỹ năng sư phạm và kỹ năng mềm cho người học.

Giải pháp 1.3:  Đa dạng hóa phương pháp kiểm tra đánh giá, đảm bảo nghiêm túc, khách quan, chính xác, công bằng và phù hợp với phương thức đào tạo, hình thức học tập, đánh giá được mức độ tích lũy của người học về kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành và năng lực phát hiện, giải quyết vấn đề.

Mục tiêu 2: Tăng cường các biện pháp hỗ trợ cải tiến nội dung, phương pháp dạy và học

Giải pháp 2.1: Tăng cường ứng dụng công nghệ hiện đại và kỹ thuật tiên tiến vào quá trình giảng dạy.

Giải pháp 2.2: Tăng cường nguồn học liệu; Biên soạn giáo trình;, tài liệu học tập cho các đối tượng học viên.

3.2. Về nghiên cứu khoa học

Đến năm 2020, Bộ môn Giáo dục học trở thành nơi nghiên cứu khoa học giáo dục của trường. Hoạt động khoa học và công nghệ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, giải quyết những vấn đề thực tiễn giáo dục.

Mục tiêu 1: Nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học công nghệ.

Giải pháp 1.1: Nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên.

Giải pháp 1.2: Hướng nghiên cứu mũi nhọn là khoa học giáo dục. Tạo điều kiện để cán bộ trẻ, người học tham gia nghiên cứu khoa học. Khuyến khích công bố kết quả nghiên cứu trên các tạp chí khoa học quốc tế có uy tín.

Giải pháp 1.3: Tạo điều kiện để các nhà khoa học tham gia nghiên cứu, tư vấn và chuyển giao công nghệ. Đẩy mạnh hợp tác trong hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ.

Mục tiêu 2: Hướng hoạt động nghiên cứu khoa học vào nâng cao chất lượng đào tạo. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học giáo dục

Giải pháp 2.1: Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học giáo dục; khuyến khích nghiên cứu triển khai ứng dụng.

Giải pháp 2.3: Xây dựng chính sách phù hợp, tạo điều kiện để người học tham gia nghiên cứu khoa học.

3.3.3. Về tổ chức và nhân sự

Đến năm 2020, Bộ môn Giáo dục học trở thành bộ môn hạt nhân của ngành sư phạm, có đội ngũ cán bộ đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng.

 Mục tiêu : Xây dựng đội ngũ giảng viên có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức trách nhiệm và trình độ chuyên môn cao, có phong cách giảng dạy, làm việc chuyên nghiệp

Giải pháp 2.1: Đẩy mạnh đào tạo,  bồi dưỡng nâng cao  phẩm chất đạo đức, chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giảng viên.

Giải pháp 2.2: Xây dựng đội ngũ giảng viên cơ hữu trong bộ môn  đủ số lượng, đảm bảo chất lượng, phù hợp về cơ cấu để thực hiện chương trình đào tạo và nghiên cứu khoa học.

Giải pháp 2.3: Nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ  (đặc biệt là tiếng Anh) và tin học cho đội ngũ giảng viên nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ  đào tạo và nghiên cứu khoa học.

 Phần 4: KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG GIAI ĐOẠN 2015 – 2020

Chiến lược /

Mục tiêu /

Giải pháp

Khung

thời gian

Trách nhiệm

Ghi chú

 

Năm học

Chính

Phối hợp

 

1. Về đào tạo: Đến năm 2020, Bộ môn Giáo dục học có quy mô và chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu nhân lực và phát triển của nhà trường.

Mục tiêu 1: Nội dung, phương pháp giảng dạy được đổi mới

Giải pháp 1.1: Đổi mới nội dung theo tiếp cận CDIO, cập nhật những tri thức tiên tiến, hiện đại về khoa học giáo dục ở thế giới và Việt Nam. Chương trình đào tạo, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm được đổi mới, thống nhất với chương trình đào tạo, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của các trường sư phạm trọng điểm trong nước. Đổi mới các chương trình, học phần bồi dưỡng GV, CBQL giáo dục.

 

Bắt đầu: năm học 2015 – 2016; kết thúc năm học 2019 -2020

Toàn thể Bộ môn

Các bộ môn trong khoa, các phòng chức năng trong trường

 

Giải pháp 1.2: Đổi mới phương pháp dạy và học theo định hướng phát triển năng lực người học, tăng cường tự học, tự nghiên cứu, chú trọng rèn luyện kỹ năng sư phạm và kỹ năng mềm cho người học.

 

 

 

Bắt đầu: năm học 2015 – 2016; kết thúc năm học 2019 -2020

Toàn thể Bộ môn

Các bộ môn trong khoa, các phòng chức năng trong trường

- Có kế hoạch dạy và học chi tiết theo tuần;

- Giảng viên giao đề tài cụ thể cho sinh viên học nhóm;

- Cung cấp hệ thống học liệu để sinh viên nghiên cứu trước và sau bài giảng;

- Đẩy mạnh việc tự học của sinh viên;

- Tổ chức các xêmina về đổi mới phương pháp dạy học.

Giải pháp 1.3: Đa dạng hóa phương pháp kiểm tra đánh giá, đảm bảo nghiêm túc, khách quan, chính xác, công bằng và phù hợp với phương thức đào tạo, hình thức học tập, đánh giá được mức độ tích lũy của người học về kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành và năng lực phát hiện, giải quyết vấn đề.

 

Bắt đầu: năm học 2015 – 2016; kết thúc năm học 2019 -2020

 

 

 

 

Bắt đầu: năm học 2015 – 2016; kết thúc năm học 2019 -2020

 

Toàn thể Bộ môn

Các bộ môn trong khoa, các phòng chức năng trong trường

- Kiểm tra đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan trên máy tính và tự luận;

- Kiểm tra chuyên cần, giữa kỳ;

 

Mục tiêu 2: Tăng cường các biện pháp hỗ trợ cải tiến nội dung, phương pháp dạy và học

Giải pháp 2.1: Tăng cường ứng dụng công nghệ hiện đại và kỹ thuật tiên tiến vào quá trình giảng dạy.

 

Bắt đầu: năm học 2015 – 2016; kết thúc năm học 2019 -2020

Toàn thể Bộ môn

Các bộ môn trong khoa, các phòng chức năng trong trường

 

Giải pháp 2.2: Tăng cường nguồn học liệu; Biên soạn giáo trình;, tài liệu học tập cho các đối tượng học viên.

 

Bắt đầu: năm học 2015 – 2016; kết thúc năm học 2019 -2020

Toàn thể Bộ môn

Các bộ môn trong khoa, Nhà xuất bản, các phòng chức năng trong trường

100% học phần của Bộ môn có giáo trình chính

3.2. Về nghiên cứu khoa học:Đến năm 2020, Bộ môn Giáo dục học trở thành nơi nghiên cứu khoa học giáo dục của trường. Hoạt động khoa học và công nghệ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, giải quyết những vấn đề thực tiễn giáo dục.

 

Mục tiêu 1: Nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học

 

Giải pháp 1.1: Nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên.

 

Bắt đầu: năm học 2015 – 2016; kết thúc năm học 2019 -2020

Toàn thể Bộ môn

Các bộ môn trong khoa, Phong khoa học và HTQT, các phòng chức năng trong trường

Hàng năm tổ chức trao đổi về phương pháp nghiên cứu khoa học;

- Tổ chức sinh hoạt khoa học định kỳ 1 lần / tháng;

- Hàng năm có 70% giảng viên trong bộ môn tham gia hội thảo, hội nghị khoa học

Giải pháp 1.2: Hướng nghiên cứu mũi nhọn là khoa học giáo dục. Tạo điều kiện để cán bộ trẻ, người học tham gia nghiên cứu khoa học. Khuyến khích công bố kết quả nghiên cứu trên các tạp chí khoa học quốc tế có uy tín.

 

Bắt đầu: năm học 2015 – 2016; kết thúc năm học 2019 -2020

Toàn thể Bộ môn

 

Số bài báo công bố trên tạp chí trong nước: 5 bài / năm;

- 1-2 bài đăng tạp chí quốc tế

Mục tiêu 2: Hướng hoạt động nghiên cứu khoa học vào nâng cao chất lượng đào tạo. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học giáo dục

 

Giải pháp 2.1: Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học giáo dục; khuyến khích nghiên cứu triển khai ứng dụng.

 

Bắt đầu: năm học 2015 – 2016; kết thúc năm học 2019 -2020

Toàn thể Bộ môn

 

- Số đề tài về các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo: 1-2đề tài / năm

3.3.3. Về tổ chức và nhân sự: Đến năm 2020, Bộ môn Giáo dục học trở thành bộ môn hạt nhân của ngành sư phạm, có đội ngũ cán bộ đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng.

Mục tiêu : Xây dựng đội ngũ giảng viên có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức trách nhiệm và trình độ chuyên môn cao, có phong cách giảng dạy, làm việc chuyên nghiệp

 

Giải pháp 2.1: Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng nâng cao phẩm chất đạo đức, chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giảng viên.

 

Bắt đầu: năm học 2015 – 2016; kết thúc năm học 2019 -2020

Toàn thể Bộ môn

Khoa Giáo dục, phòng TCCB

Tổ chức các hoạt động dự giờ, thăm lớp, xemina, đẩy mạnh tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn, tin học, ngoại ngữ.

Giải pháp 2.2: Xây dựng đội ngũ giảng viên cơ hữu trong bộ môn đủ số lượng, đảm bảo chất lượng, phù hợp về cơ cấu để thực hiện chương trình đào tạo và nghiên cứu khoa học.

 

Bắt đầu: năm học 2015 – 2016; kết thúc năm học 2019 -2020

Toàn thể Bộ môn

Khoa Giáo dục, phòng TCCB

Nhận từ 2-3 giảng viên mới, đề xuất cử 1-2 giảng viên trẻ đi đào tạo TS ở nước ngoài

Giải pháp 2.3: Nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ (đặc biệt là tiếng Anh) và tin học cho đội ngũ giảng viên nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học.

 

Bắt đầu: năm học 2015 – 2016; kết thúc năm học 2019 -2020

Toàn thể Bộ môn