MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ VẤN ĐỀ ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC

PGS.TS. Chu Thị Thủy An
Trường Đại học Vinh

Tóm tắt: Phát triển năng lực người học là định hướng cơ bản, then chốt của Đề án Đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông sau năm 2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Để đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn nhà trường tiểu học trong những năm tới, các trường sư phạm đào tạo giáo viên tiểu học phải đổi mới cả về mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức đào tạo. Bài viết đưa ra những đề xuất về xác định mục tiêu của chương trình đào tạo, cách thức biên soạn giáo trình, việc xây dựng và tổ chức quá trình rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, việc xây dựng và sử dụng trường thực hành sư phạm, việc sử dụng phương pháp dạy học trong các môn học.

1.Phát triển năng lực người học (competency – based approach) là định hướng cơ bản, then chốt của Đề án Đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông sau năm 2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) tổng thể (dự thảo) cũng đã nhấn mạnh mục tiêu của chương trình giáo dục tiểu học là “nhằm chuẩn bị cho học sinh những cơ sở ban đầu của việc hình thành và phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần, phẩm chất và năng lực được nêu trong mục tiêu chương trình giáo dục phổ thông”. Để đảm bảo đào tạo ra đội ngũ giáo viên thực hiện tốt chương trình giáo dục cấp tiểu học, các trường sư phạm thực sự phải nghiên cứu, xây dựng nội dung chương trình, qui trình đào tạo theo định hướng mới, đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu đổi mới của giáo dục nước nhà. Chủ yếu là xuất phát từ kinh nghiệm đào tạo giáo viên tiểu học có trình độ đại học ở trường Đại học Vinh, tham luận này trình bày một số suy nghĩ về đào tạo giáo viên tiểu học ở các trường sư phạm theo định hướng tiếp cận năng lực.

2. Các thành tựu nghiên cứu lý luận về năng lực và sự phát triển năng lực
2.1. Theo các nhà tâm lý học:“Năng lực là tổ hợp các thuộc tính tâm lý của một cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định đảm bảo cho hoạt động đó đạt kết quả cao.” Chương trình GDPT tổng thể xuất phát từ góc độ giáo dục học, nêu một quan điểm cụ thể hơn: “Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí... Năng lực của cá nhân được đánh giá qua phương thức và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống.” Tuy nhiên, các quan điểm này đều thống nhất ở những vấn đề sau: năng lực được hình thành và bộc lộ trong hoạt động; năng lực được gắn với một hoạt động cụ thể; năng lực chịu sự chi phối của các yếu tố bẩm sinh di truyền, môi trường và hoạt động của bản thân.
2.2.Tâm lý học chia năng lực thành các dạng khác nhau: năng lực chung và năng lực chuyên môn. Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau như năng lực phán xét, năng lực tư duy, năng lực khái quát hoá, năng lực tưởng tưởng…Năng lực chuyên môn là năng lực đặc trưng trong một lĩnh vực nhất định của xã hội như năng lực tổ chức, năng lực âm nhạc, năng lực kinh doanh, hội hoạ, toán học... Năng lực chung và năng lực chuyên môn có quan hệ qua lại hữu cơ với nhau, năng lực chung là cơ sở của năng lực chuyên môn, năng lực chung càng phát triển thì năng lực năng lực chuyên môn càng cao. Ngược lại sự phát triển của năng lực chuyên môn trong những điều kiện nhất định lại có ảnh hưởng đối với sự phát triển của năng lực chung. 
Chương trình GDPT tổng thể cũng cho rằng: “Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kỳ một người nào cũng cần có để sống, học tập và làm việc. Các hoạt động giáo dục với khả năng khác nhau, nhưng đều hướng tới mục tiêu hình thành và phát triển các năng lực chung của học sinh. Năng lực đặc thù môn học (của môn học nào) là năng lực mà môn học (đó) có ưu thế hình thành và phát triển (do đặc điểm của môn học đó).” Những năng lực cơ bản này không phải là bẩm sinh, mà nó phải được bồi dưỡng, giáo dục, và phát triển ở con người. Năng lực của một người phối hợp trong mọi hoạt động là nhờ khả năng tự điều khiển, tự quản lý, tự điều chỉnh ở mỗi cá nhân được hình thành trong quá trình sống và giáo dục. 
2.3. Thành tựu nghiên cứu tâm lý học cũng đã chỉ ra mối quan hệ giữa năng lực với các khái niệm khác:
Thứ nhất là quan hệ giữa năng lực và tư chất: Tư chất là một đặc điểm riêng của mỗi cá nhân về giải phẩu sinh lý bẩm sinh của bộ não, của hệ thần kinh, của cơ quan phân tích tạo nên sự khác nhau giữa con người với nhau.Tư chất là một trong những điều kiện hình thành của năng lực nhưng không quy định sự phát triển của năng lực.Trên cơ sở tư chất của con người, có thể hình thành những năng lực rất khác nhau.
Thứ hai, quan hệ giữa năng lực và thiên hướng: Thiên hướng là khuynh  hướng cá nhân đối với một loại hoạt động nào đó.Thiên hướng và năng lực hoạt động thường ăn khớp với nhau và cùng phát triển. Thiên hướng mạnh mẽ của con người với hoạt động nào đó là dấu hiệu năng lực đang hình thành.
Thứ ba, quan hệ giữa năng lực và tri thức, kĩ năng, kỹ xảo: Tri thức, kĩ năng, kỹ xảo là điều kiện cần thiết để hình thành năng lực song không đồng nhất với năng lực. Năng lực góp phần làm cho quá trình lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo trong lĩnh vực hoạt động được nhanh chóng, thuận lợi, dễ dàng hơn. Có năng lực hoạt động tức là có tri thức, kĩ năng, kĩ xảo trong lĩnh vực đó nhưng có tri thức, kĩ năng, kĩ xảo không có nghĩa là có năng lực.

3. Những ứng dụng trong việc đào tạo giáo viên tiểu học theo định hướng tiếp cận năng lực
3.1. Năng lực có quan hệ mật thiết với tư chất và thiên hướng, năng lực chịu sự chi phối của yếu tố bẩm sinh, di truyền, vì vậy, kết quả đào tạo phụ thuộc rất nhiều vào vào tư chất, thiên hướng của người học. Theo chúng tôi, phải có những chính sách mạnh mẽ để đảm bảo thu hút được những sinh viên có tư chất, có thiên hướng về sư phạm giáo dục tiểu học. Các chính sách này có thể là đảm bảo việc làm, đảm bảo mức lương cao cho giáo viên tiểu học…Mặt khác, trong quá trình tuyển sinh, phải có biện pháp phát hiện ra những người có thiên hướng, có hứng thú về sư phạm giáo dục tiểu học. Hiện nay, chúng ta vẫn chỉ quan tâm đến việc xây dựng chuẩn đầu ra mà chưa chú trọng “chuẩn đầu vào”.
3.2. Phải cụ thể hóa hệ thống năng lực cần phát triển cho sinh viên khi xây dựng chương trình đào tạo, coi trọng rèn luyện các năng lực bề nổi, tạo tiền đề phát triển các năng lực chiều sâu cho sinh viên.Trong quá trình đào tạo, phải chú trọng phát triển toàn diện năng lực sư phạm chung và những năng lực đặc thù của người giáo viên tiểu học cho sinh viên.
3.3. Năng lực được hình thành và bộc lộ qua hoạt động, cho nên quá trình đào tạo phải thực sự là quá trình tổ chức cho người học tham gia các hoạt động học tập và rèn luyện cụ thể, đa dạng, trên nhiều lĩnh vực cụ thể để họ có điều kiện phát triển năng lực, phát triển tối đa tư chất và thiên hướng của mình. Như vậy, phải tích cực đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp đào tạo ở các trường sư phạm, đổi mới thật sự và có chiều sâu, không dừng lại ở hình thức bề ngoài như hiện nay. Phương pháp giảng dạy không được truyền thụ một chiều, dạy học phải thông qua hệ thống bài tập, hệ thống nhiệm vụ, sinh viên phải tự giải quyết các vấn đề giảng viên đặt ra, tự rèn cách học, phương pháp học, tự rèn luyện kĩ năng nghề nghiệp.
3.4. Việc đổi mới này phải bắt đầu từ việc hiện đại hóa nội dung, chương trình và giáo trình, bài giảng, hiện đại hóa cả về nội dung và hình thức, đảm bảo cho sinh viên được trang bị (thông qua hoạt động học tập) và tự trạng bị (thông qua các hoạt động tự học, tự rèn luyện) những kiến thức hiện đại, tiến bộ nhất ở trong nước và trên thế giới về những ngành khoa học có liên quan nhằm đào tạo ra những giáo viên tiểu học có năng lực, hiện đại về quan điểm giáo dục, chủ động, có khả năng tự nâng cao nghiệp vụ, sáng tạo trong dạy học và giáo dục học sinh. Giáo viên tiểu học mà chúng ta đào tạo ra hiện nay tính chủ động, sáng tạo chưa cao, còn có thói quen rập khuôn, máy móc trong dạy học và giáo dục học sinh, làm dụng “mẫu” trong công việc, trong giảng dạy. Muốn phục vụ tốt cho việc đổi mới chương trình, SGK phải đào tạo được đội ngũ giáo viên có năng lực tức là có tri thức, có kỹ năng, có lòng yêu nghề, say sưa với hoạt động nghề nghiệp, năng động, chủ động, sáng tạo; có thể thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục của mình.
3.5. Bên cạnh đó, là việc xây dựng qui trình đào tạo hiện đại, năng động, kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành; kết hợp giữa các hoạt động học tập ở giảng đường đại học và các hoạt động thực hành nghề ở các trường tiểu học với đối tượng học sinh tiểu học và giáo viên tiểu học thật sự, với các nhiệm vụ thực hành cụ thể, thực tế, sinh động và có tính thử thách.

4. Những nhiệm vụ cụ thể của các trường sư phạm trong đào tạo giáo viên tiểu học hiện nay
4.1. Xây dựng chương trình đào tạo giáo viên tiểu học hướng đến mục tiêu phát triển năng lực sư phạm giáo dục tiểu học cho người học, bao gồm hệ thống năng lực sư phạm chung và các năng lực đặc thù của người giáo viên tiểu học. 
Chương trình đào tạo nên cốt lõi, cân đối giữa thời lượng lí thuyết và thực hành; coi trọng việc xác định tỉ lệ hợp lý giữa các môn chung và các môn chuyên ngành; giữa môn khoa học cơ bản và khoa học sư phạm. 
Trong mục tiêu của mỗi môn học, nên xác định hệ thống năng lực tương ứng phải hình thành và phát triển cho sinh viên. Chẳng hạn, môn Tiếng Việt, cần xác định rõ hai loại năng lực cần hình thành cho sinh viên: năng lực tiếng Việt, năng lực sử dụng tiếng Việt. Môn Phương pháp dạy học tiếng Việt thì cần xác định mục tiêu cơ bản là hình thành và phát triển cho sinh viên năng lực giảng dạy tiếng Việt cho học sinh tiểu học, bên cạnh đó là tiếp tục trau dồi năng lực tiếng Việt và năng lực sử dụng tiếng Việt.
4.2. Biên soạn hệ thống giáo trình và tài liệu học tập theo hướng hiện đại, theo mô đun.Trong đó, coi trọng việc thiết kế hệ thống nhiệm vụ cụ thể mà sinh viên phải thực hiện để đạt được mục tiêu mà từng mô đun, từng chủ đề, từng hoạt động đã đặt ra.Thông qua, việc tiến hành các hoạt động để giải quyết hệ thống nhiệm vụ mà giáo trình đặt ra các năng lực của sinh viên được bộc lộ một cách tích cực, tự nhiên, hiệu quả.
Các giáo trình về khoa học cơ bản, hệ thống nhiệm vụ sẽ chính là hệ thống bài tập có tích hợp kiến thức lý thuyết. Sau khi giải quyết hệ thống bài tập, sinh viên có được kiến thức lý thuyết cơ bản và có năng lực để nghiên cứu sâu hơn về vần đề lý thuyết tương ứng. 
Các giáo trình về phương pháp dạy học, hệ thống nhiệm vụ thường phong phú hơn như làm việc với tài liệu tham khảo, làm việc với sách giáo khoa, thiết kế giáo án, thiết kế bài tập… Bởi mục tiêu của các môn phương pháp dạy học là phát triển các năng lực dạy học.
Các giáo trình về Tâm lý học, Giáo dục học nên chú trọng thiết kế các nhiệm vụ gắn liền với thực tiễn nhà trường, từ việc giải quyết các vấn đề trong thực tiễn sinh viên sẽ trừu tượng hóa các hiện tượng tâm lý, giáo dục lên để rút ra các vấn đề lý thuyết cần ghi nhớ.
4.3. Thiết kế và tổ chức qui trình rèn luyện nghiệp vụ sư phạm (NVSP) theo mô đun để đảm bảo tính năng động, linh hoạt, hiệu quả, phù hợp với hình thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ. Mỗi mô đun rèn luyện NVSP cũng có mục tiêu chính và mục tiêu phụ: hình thành năng lực cơ bản và củng cố các năng lực mà sinh viên đã có trước đó.
Qui trình rèn luyện này phải thiết kế khoa học, đảm bảo sự thống nhất chặt chẽ, tạo điều kiện cho sự phối hợp nhịp nhàng giữa việc học tập lý thuyết trên giảng đường và hoạt động rèn nghề ở trường thực hành.Mỗi tiểu mô đun rèn luyện NVSP tương ứng với một số môn học trong chương trình, vì thế sẽ tương ứng với các năng lực nhất định cần hình thành và củng cố.
Việc tổ chức hoạt động thực hành rèn luyện NVSP nên phát huy đến mức cao nhất mức độ tự lực, tự lập trong học tập của sinh viên; thiết kế mô đun hướng dẫn thật chi tiết, cụ thể để sinh viên tự thực hiện dưới sự giúp đỡ của giáo viên trường thực hành, không nên có sự hướng dẫn quá sát sao của giảng viên.
Để đảm bảo hiệu quả của quá trình rèn luyện NVSP phải chú trọng khâu đánh giá kết quả. Đánh giá kết quả phải dựa trên những sản phẩm cụ thể, bộc lộ năng lực của sinh viên: bài viết chữ đẹp, băng ghi âm đọc diễn cảm, giáo án đã thiết kế, đề kiểm tra và đáp án đã xây dựng, bài làm của học sinh đã được chấm, phiếu đánh giá giờ dạy đã điền sau khi dự giờ…
4.4. Xây dựng hệ thống trường thực hành sư phạm theo hai hình thức: trường thực hành trực thuộc trường Đại học sư phạm và trường thực hành “vệ tinh” (sử dụng các trường trọng điểm của địa phương). Đào tạo giáo viên tiểu học theo định hướng tiếp cận năng lực không thể thành công nếu không coi trọng hệ thống trường thực hành sư phạm.Trường thực hành sư phạm là “mảnh đất” thực tiễn đầy tình huống sinh động và gai góc, có vấn đề để sinh viên trải nghiệm và phát triển năng lực nghề nghiệp của mình. Đối với giảng viên, đó là điều kiện thể hiện ý đồ dạy học, để thiết kế các hoạt động, các nhiệm vụ cho sinh viên phù hợp với mục tiêu đã xác định của môn học, của mô đun dạy học. Mặt khác, đây cũng là “mảnh đất màu mỡ” để giảng viên tiến hành các đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục theo định hướng phát triển năng lực người học.
4.5.Sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực trong giảng dạy tất cả các môn học. Sinh viên phải được “đắm mình” trong phương pháp dạy học tích cực, năng lực dạy học được hình thành một cách tự nhiên, nhuần nhuyễn không ép buộc,khiên cưỡng. Hiện nay, ở các trường sư phạm, sinh viên tiếp thu những hiểu biết về phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực cho học sinh tiểu học thông qua các phương pháp học tập truyền thống, truyền thụ một chiều của giảng viên do điều kiện dạy học ở trường đại học không phù hợp. Chính vì vậy, năng lực sử dụng các phương pháp và kĩ thuật này của sinh viên vẫn hạn chế.
Tóm lại, trường Đại học sư phạm phải chuyển mình cùng với sự đổi mới của nền giáo dục nước nhà, của các cấp học phổ thông. Để đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn nhà trường tiểu học trong những năm tới, các trường sư phạm đào tạo giáo viên tiểu học phải đổi mới cả về mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức đào tạo. Chúng tôi hi vọng sẽ có những bài viết cụ thể hơn về những ý tưởng khái quát đã nêu trên đây.

                     TÀI LIỆU THAM KHẢO


1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tài liệu hội thảo xây dựng chương trình giáo dục phổ thông theo định hướng phát triển năng lực học sinh, Hà Nội, 12/2014.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể (trong chương trình Giáo dục phổ thông mới), Hà Nội, 7/2015.
3. Chu Thị Thủy An, “Đổi mới qui trình rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên cho sinh viên ngành Giáo dục tiểu học trường Đại học Vinh”, Tạp chí Giáo dục, số Đặc biệt, 11/2010.
4. Chu Thị Thủy An, “Giải pháp nâng cao hiệu quả phối hợp giữa trường Sư phạm và mạng lưới trường thực hành trong hoạt động rèn luyện NVSP thường xuyên cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học”, Tạp chí Giáo chức Việt Nam, số 80, 2013.
5.Phan Trọng Ngọ (Chủ biên), Các lý thuyết phát triển tâm lý người, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội, 2003.