PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC LẬP LUẬN CHO HỌC SINH TIỂU HỌC

KHI VIẾT VĂN MIÊU TẢ

                                                           PGS.TS. Chu Thị Thủy An

            Title: Developing arguing competency in descriptive writing for primary students
               Từ khóa: phát triển, năng lực, lập luận, văn miêu tả 
            Tóm tắt: Theo ngữ dụng học, thực từ là những dấu hiệu giá trị học, có vai trò quan trọng trọng việc định hướng lập luận cho văn bản, thuyết phục người đọc đi đến những kết luận mà người viết mong muốn. Bài viết của chúng tôi vận dụng những nghiên cứu của ngữ dụng học vào việc xây dựng các biện pháp rèn luyện kĩ năng viết văn miêu tả, nhằm giải quyết những khó khăn của HS trong quá trình tìm ý, sắp xếp ý, lựa chọn từ ngữ biểu đạt, thể hiện cảm xúc khi diễn đạt, duy trì tình cảm chủ đạo của bài văn.
       Abstract: In pragmatics, substantives play an important role in argument direction of the texts, convincing the readers to the conclusions of the writers. This article applies pragmatics researches to developing the methods of training descriptive writing skill, helping students overcome difficulties to finding ideas, organizing ideas, choosing expression, expressing emotions and maintaining the major sentiment in writing.
                Keywords:  developing, competency, argument, descriptive writing)

             1. Đặt vấn đề

            1.1.Văn miêu tả, từ lâu, đã là thể loại văn được các nhà nghiên cứu quan tâm. "Miêu tả là lấy nét vẽ hoặc câu văn để biểu hiện cái chân tướng của sự vật ra". [1. tr 134] Miêu tả là "dùng ngôn ngữ hoặc một phương tiện nghệ thuật nào đó làm cho người khác có thể hình dung được cụ thể sự vật, sự việc hoặc thế giới nội tâm của con người."[2. tr 814] Văn miêu tả có những đặc trưng riêng biệt, có giá trị sâu sắc trong đời sống tinh thần của con người. Miêu tả là vẽ ra các sự vật, sự việc, hiện tượng, con người… bằng ngôn ngữ một cách sinh động, cụ thể. Nó là sự kết tinh của những nhận xét tinh tế, những rung động sâu sắc mà người viết thu lượm khi quan sát cuộc sống.  "...Bao giờ người viết cũng đánh giá chúng theo một quan điểm thẩm mĩ và gửi vào bài viết tình cảm hay ý kiến đánh giá, bình luận của mình. Do vậy, từng chi tiết của bài miêu tả đều mang ấn tượng cảm xúc chủ quan.".[3.tr 99] "Một bài văn miêu tả được coi là sinh động, tạo hình khi các sự vật, đồ vật, con người… được miêu tả hiện lên qua từng câu, từng dòng như trong cuộc sống thực, tưởng như có thể cầm được, có thể nhìn, ngắm được hoặc ''sờ mó" được như cách nói của Gorki."[3.tr 101]
            1.2.Trong những năm gần đây, ngữ dụng học đã nghiên cứu văn miêu tả từ một góc nhìn khác.Theo Oswald Ducrot "giá trị đích thực của một nội dung miêu tả là giá trị lập luận của nó, có nghĩa là giá trị đích thực của nó là ở chỗ nó được nói, viết ra là nhằm dẫn người nghe, người đọc tới một kết luận + r hoặc – r nào đó". Hayakawa cũng cho rằng: Ít khi người ta miêu tả để mà miêu tả. Trừ những diễn ngôn khoa học, trong giao tiếp đời thường, chúng ta miêu tả một cái gì đó là đặt cái nội dung miêu tả đó vào một lập luận nào đấy." [4.tr 172] "Ý nghĩa đích thực của miêu tả là lập luận cho nên nhà văn nhà thơ thường lựa chọn các chi tiết của cảnh, của người, của việc và sử dụng những cách biểu cảm sao cho phù hợp với kết luận dự định hướng tới." [4. tr 173]
            1.3.Trong văn miêu tả, quan hệ lập luận được thể hiện rất rõ.Vì miêu tả là nêu đặc điểm, tính chất của sự vật, hiện tượng làm cho người nghe, người đọc nhận biết sự vật, hiện tượng ấy.Việc miêu tả các sự vật, hiện tượng của người viết, người nói không phải là vô tư mà thường nhằm tới một cái đích nào đó. Mặt khác, theo tác giả Đỗ Hữu Châu: "Trong văn bản, chúng ta thường nói tới tư tưởng, chủ đề. Tư tưởng, chủ đề thường là kết luận tường minh hay hàm ẩn... Văn bản, diễn ngôn hay một đoạn văn là một lập luận đơn hay phức hợp bất kể văn bản viết theo phong cách chức năng nào. Tính lập luận là sợi chỉ đỏ đảm bảo tính mạch lạc (conherence) về nội dung bên cạnh tính liên kết về hình thức của văn bản, của diễn ngôn. "[4.tr 173] Vì vậy, khi HS có kĩ năng lập luận, bài văn của các em sẽ không còn rơi vào tình trạng rời rạc, khô cứng và tư tưởng, tình cảm của các em được thể hiện rõ, xuyên suốt cả bài.
            2. Các biện pháp phát triển năng lực lập luận khi viết văn miêu tả cho HS tiểu học
            Xuất phát từ đặc trưng của văn miêu tả, chúng tôi xây dựng các biện pháp phát triển năng lực lập luận cho HS như sau:
            2.1 Biện pháp 1: Luyện tập định hướng lập luận qua việc sắp xếp vị trí các luận cứ, kết luận phù hợp với mục đích miêu tả
            - Ý nghĩa của biện pháp: Các chi tiết miêu tả chính là các luận cứ hoặc kết luận. Mục đích miêu tả tức là tư tưởng chủ đạo của bài văn. Khi HS đã lựa chọn được các chi tiết miêu tả phù hợp với mục đích miêu tả (điều này đã đề cập đến ở [5.tr 24]) được dự kiến của bài viết, chúng ta có thể giúp HS định hướng lập luận bằng cách sắp xếp vị trí các chi tiết, các hình ảnh theo một trật tự phù hợp với ý đồ lập luận, với cảm xúc chủ đạo của bài viết.
            - Nội dung biện pháp: Mỗi đoạn văn, bài văn miêu tả của HS đều là các lập luận lớn, bé khác nhau. Tuy nhiên, để biện pháp này vừa sức với HS và có tính khả thi cao, nên xem mỗi đoạn văn là một lập luận. GV cung cấp cho HS các luận cứ (tức là các câu văn) và định hướng kết luận (mục tiêu giao tiếp), yêu cầu HS sắp xếp các câu văn theo trật tự phù hợp với hướng kết luận mà đề bài yêu cầu. Ngoài ra, GV cũng có thể yêu cầu HS viết những đoạn miêu tả ngắn theo mục đích lập luận mà đề bài yêu cầu. Tức là yêu cầu HS phải tự xây dựng các luận cứ và kết luận phù hợp với mục đích lập luận cho trước.
            Khi kĩ năng này của HS đã thành thục, HS có thể thực hiện sắp xếp ý một cách tự nhiên khi tiến hành lập dàn ý hoặc viết bài văn ở lớp 4 -5. Như vậy, biện pháp này có thể sử dụng cả ở lớp 2, 3 và lớp 4, 5.
            Chẳng hạn, các bài tập sau:
            Hà đã suy nghĩ và liệt kê xong các ý cho đoạn văn miêu tả cô gà mái mơ nhưng bạn ấy chưa biết cách sắp xếp ý như thế nào để khi đọc mọi người đều thấy hiện lên một cô gà mái mơ tuy vất vả vì đàn con nhưng vẫn đẹp và hiền dịu. Em hãy giúp Hà sắp xếp các ý và viết thành đoạn văn nhé!
            (1) Mẹ của các bé gà con mới nở là một cô gà mái mơ dịu hiền. (2) Cái mỏ vàng đã ngả sang màu nâu vì vất vả kiếm mồi cho đàn con và có vẻ tù đi chứ không còn sắc nhọn như trước. (3) Cô vẫn đẹp lắm. (4) Vẻ đẹp của cô gà mái mơ bây giờ là vẻ đẹp của một bà mẹ hạnh phúc bên đàn con; (5) Cái mào nhỏ trên đầu, màu không còn tươi tắn nhưng lại phù hợp với cặp mắt vàng như nắng trưa. (6) Lứa gà này là đàn con thứ ba của cô nên trông dáng hình đã tương đối ục ịch. (7) Bộ lông có vẻ xác xơ sau thời kì đẻ và ấp trứng nay đã mượt mà trở lại.
            Đáp án của bài tập này có thể như sau: (1)Mẹ của các bé gà con mới nở là một cô gà mái mơ dịu hiền. (6) Lứa gà này là đàn con thứ ba của cô nên trông dáng hình đã tương đối ục ịch. (2) Cái mỏ vàng đã ngả sang màu nâu vì vất vả kiếm mồi cho đàn con và có vẻ tù đi chứ không còn sắc nhọn như trước. (3) Nhưng cô vẫn đẹp lắm. (5) Cái mào nhỏ trên đầu, màu không còn tươi tắn nhưng lại phù hợp với cặp mắt vàng như nắng trưa. (7) Bộ lông có vẻ xác xơ sau thời kì đẻ và ấp trứng nay đã mượt mà trở lại. (4) Vẻ đẹp của cô gà mái mơ bây giờ là vẻ đẹp của một bà mẹ hạnh phúc bên đàn con.
            Theo lí thuyết lập luận thì (1) và (4) chính là kết luận. Để hướng tới kết luận này ở đoạn văn (lập luận) trên đã sử dụng năm luận cứ: (6) và (2) là các luận cứ âm (-) tức là hướng đến kết luận ngược với  (1) và (4). Còn (3), (5), (7) là các luận cứ hướng đến kết luận dương(+), tức là hướng tới (1) và (4). Vì vậy, với yêu cầu của bài tập là sắp xếp các ý phù hợp để khi đọc mọi người đều thấy hiện lên một cô gà mái mơ tuy vất vả vì đàn con nhưng vẫn đẹp và hiền dịu, HS phải để (6) và (2) lên trước, (3), (5), (7) ra sau – gần với kết luận hơn.
            Có thể thay đổi lệnh của bài tập là em hãy sắp xếp các ý trong đoạn để khi đọc mọi người đều thấy hiện lên một cô gà mái mơ vất vả vì đàn con. Nếu vậy thì đáp án của bài tập có thể như sau: (1) Mẹ của các bé gà con mới nở là một cô gà mái mơ dịu hiền. (3) Cô vẫn đẹp lắm. (4) Vẻ đẹp của cô gà mái mơ bây giờ là vẻ đẹp của một bà mẹ hạnh phúc bên đàn con. (5) Cái mào nhỏ trên đầu, màu không còn tươi tắn nhưng lại phù hợp với cặp mắt vàng như nắng trưa. (7) Bộ lông có vẻ xác xơ sau thời kì đẻ và ấp trứng nay đã mượt mà trở lại. (6) Nhưng lứa gà này là đàn con thứ ba của cô nên trông dáng hình đã tương đối ục ịch. (2) Cái mỏ vàng cũng đã ngả sang màu nâu vì vất vả kiếm mồi cho đàn con và có vẻ tù đi chứ không còn sắc nhọn như trước.
            Đoạn văn thứ hai hướng người đọc đi đến kết luận ngược với đoạn văn thứ nhất. Hai luận cứ hướng đến kết luận âm (-) (6) và (2) được xếp sau cùng, kết hợp với việc sử dụng kết tử "nhưng'' chỉ sự đối lập và tác tử "cũng" chỉ sự đồng thời đã tạo ra hiệu lực lập luận này.
            Với những bài tập như trên, HS được rèn luyện và phát triển năng lực xác định vị trí của các luận cứ (sắp xếp các ý) khi nói, viết để đạt được mục đích thuyết phục của mình khi miêu tả. Ý thức và thói quen sắp xếp các luận cứ, các ý đã tìm được phù hợp với mục đích miêu tả của HS từ đó cũng được hình thành.
            2.2. Biện pháp 2: Luyện tập định hướng lập luận qua việc lựa chọn các chi tiết miêu tả cùng chủ đề làm bật nổi đặc điểm của đối tượng miêu tả
            - Ý nghĩa của biện pháp: Lựa chọn các chi tiết miêu tả cùng chủ đề là một phương tiện để định hướng lập luận. Khi dạy văn miêu tả, cần rèn luyện cho HS sử dụng phương tiện này để rèn kĩ năng diễn đạt chặt chẽ, kĩ năng làm bật nổi đặc điểm của đối tượng miêu tả, kĩ năng thể hiện một cách tập trung, thuyết phục nội dung tư tưởng của bài viết.
            - Nội dung của biện pháp: Biện pháp này có thể sử dụng cả ở khâu hướng dẫn HS tìm ý, sắp xếp ý và cả khi viết đoạn văn, bài văn miêu tả. Khi học sinh suy nghĩ lựa chọn các chi tiết miêu tả có cùng chủ đề có nghĩa là các em đang có định hướng cho lập luận miêu tả của mình. Tuy nhiên, việc tiến hành lựa chọn và sắp xếp các chi tiết miêu tả cùng chủ đề phụ thuộc nhiều vào vốn sống, vốn từ ngữ miêu tả của HS. Cho nên biện pháp này sẽ có hiệu quả cao nếu áp dụng với HS lớp 4, 5. Đây là cách phát triển song song kĩ năng viết văn miêu tả và kĩ năng tư duy của học sinh.Với lứa tuổi lớp 4 - 5, việc hướng dẫn học sinh lựa chọn các chi tiết miêu tả cùng chủ đề cũng là một biện pháp góp phần tăng hứng thú học tập cho học sinh, phát huy được tính sáng tạo của các em.
            Có thể hướng dẫn HS thực hành theo quy trình sau: bước 1: phân tích đoạn văn mẫu; bước 2: nhận xét về việc lựa chọn các chi tiết miêu tả trong đoạn văn; bước 3: thực hành chọn các chi tiết miêu tả, viết đoạn văn mới theo yêu cầu của đề bài.
            Với biện pháp này, giáo viên cần chú trọng hoạt động thực hành trên ngữ liệu mẫu, phát huy tính tích cực sáng tạo của HS. Ngữ liệu có thể là các đoạn văn miêu tả quen thuộc trong sách giáo khoa (SGK) Tiếng Việt, cũng có thể là các văn bản miêu tả bên ngoài SGK có nội dung và hình thức phù hợp, đảm bảo giúp HS luyện tập kĩ năng phân tích, lựa chọn chi tiết miêu tả cùng chủ đề.
            Chẳng hạn, sử dụng bài tập: Em hãy đọc đoạn văn sau:
            “A Cháng mười tám tuổi, ngực nở vòng cung, da đỏ như lim, bắp tay, bắp chân rắn như trắc, gụ. Vóc cao, vai rộng người đứng thẳng như cái cột đá trời trồng... Hai tay A Cháng nắm đốc cày, mắt nhìn thế ruộng, nhìn đường cày, thân hình nhoài thành một đường cong mềm mại, khi qua trái, lúc tạt phải theo đường cày uốn vòng trên hình ruộng bậc thang như một mảnh trăng lưỡi liềm. Lại có lúc được sá cày thẳng, người anh như rạp hẳn xuống, đôi chân xoải dài hoặc băm những bước ngắn, gấp gấp.”
                                                            (Theo Ma Văn Kháng, Tiếng Việt 5, tập 1, tr.119)
            a) Em hãy ghi lại những chi tiết miêu tả Hạng A Cháng. Những chi tiết nào trong đoạn văn cho em thấy Hạng A Cháng là một thanh niên khỏe mạnh.
            b) Theo cách làm như đoạn văn trên em hãy tìm các chi tiết miêu tả một bạn gái để người đọc thấy đó là một bạn gái nhỏ nhắn, dễ thương.
            Trong đoạn văn trên, có các chi tiết về ngoại hình: mười tám tuổi, ngực nở vòng cung, da đỏ như lim, bắp tay, bắp chân rắn như trắc, gụ, vóc cao, vai rộng người đứng thẳng như cái cột đá trời trồng.
            Bên cạnh đó, còn có các chi tiết về hoạt động: hai tay nắm đốc cày, mắt nhìn thế ruộng, đường cày; thân hình nhoài thành một đường cong mềm mại, uốn vòng trên hình ruộng bậc thang như một mảnh trăng lưỡi liềm; đôi chân xoải dài hoặc băm những bước ngắn, gấp gấp.
            Tất cả các chi tiết đều nhằm đến một kết luận Hạng A Cháng là một thanh niên khoẻ mạnh.
            Sau khi phân tích ngữ liệu, HS sẽ hiểu rằng, muốn người đọc đi đến kết luận về đối tượng miêu tả, người viết có thể định hướng bằng việc lựa chọn hàng loạt các chi tiết miêu tả cùng một chủ đề.
            Sau đó, HS sẽ thực hiện bài tập b). Đáp án bài tập b) có thể là thân hình mảnh dẻ, khuôn mặt trái xoan, nước da trắng trẻo, đôi mắt nâu nâu, tính tình hiền lành, thường nhường đồ dùng học tập cho các bạn, hay cười, giọng cười trong trẻo.
            Ngữ liệu văn miêu tả dạng này xuất hiện nhiều trong các bài Tập đọc, GV có thể lồng ghép khai thác để hỗ trợ học sinh rèn kĩ năng lập luận khi viết văn miêu tả. Ở các tiết bồi dưỡng HS có năng khiếu về tiếng Việt, các buổi Câu lạc bộ tiếng Việt,...GV có thể thiết kế các bài tập cho học sinh nhận dạng các chi tiết miêu tả cùng chủ đề và tập thực hành lựa chọn chi tiết miêu tả cùng chủ đề vào đề bài (tình huống miêu tả) cụ thể.
            2.3. Biện pháp 3: Luyện tập định hướng lập luận qua việc lựa chọn các từ ngữ miêu tả cùng trường nghĩa để khắc họa hình ảnh của đối tượng miêu tả
            - Ý nghĩa của biện pháp:
            Biện pháp này giúp HS khắc phục các khó khăn trong viết văn miêu tả, để tạo nên tính tạo hình cho bài văn và biểu hiện được cảm xúc thẩm mĩ cá nhân. Theo lí thuyết lập luận,việc lựa chọn, sử dụng nhiều từ ngữ cùng trường nghĩa sẽ giúp người viết khắc họa hình ảnh đối tượng một cách dễ dàng và thể hiện cảm xúc một cách tự nhiên.
            - Nội dung biện pháp:
            Trường nghĩa là một tập hợp các từ (hay ngữ cố định) trong từ vựng của một ngôn ngữ dựa vào sự đồng nhất về phạm vi nghĩa nào đó giữa các từ. Từ cùng trường nghĩa là những từ đồng nhất về nghĩa biểu vật hoặc nghĩa biểu niệm hay biểu thái. Cho nên, thường có các khái niệm trường biểu vật, trường biểu niệm và trường liên tưởng.
            Trường biểu vật là một tập hợp từ có chung phạm vi sự vật nào đó. Trường biểu vật được sử dụng nhiều trong văn chương, gắn liền với hiện tượng chuyển nghĩa, tạo nên khả năng biểu thị ý nghĩa hàm ẩn. Chẳng hạn, trong đoạn thơ sau, tác giả đã sử dụng trường biểu vật: lúa, tre, đàn cò, gió, mây…làm cho đoạn thơ tập trung vào chủ đề miêu tả cảnh làng quê.
            Những chị lúa phất phơ bím tóc/Những cậu tre bá vai nhau thì thầm đứng học/Đàn cò trắng/khiêng nắng/qua sông/Cô gió chăn mây trên đồng/Bác mặt trời đạp xe qua đỉnh núi.                                                                   (Theo Trần Đăng Khoa, Tiếng Việt 3, tập 2, tr.61)
            Sử dụng trường biểu vật sẽ giúp cho việc khắc họa đối tượng miêu tả được toàn diện, tập trung và bật nổi, các chi tiết được hiện lên sinh động, tự nhiên.
            Trường biểu niệm là tập hợp các từ có chung nét nghĩa biểu niệm nào đó.Trường biểu niệm thể hiện khả năng tập hợp các từ dựa trên nét nghĩa đồng nhất vốn có giữa các từ, tạo nên một sự cộng hưởng ngữ nghĩa hoặc sự phân biệt tinh tế về sắc thái ngữ nghĩa. Chẳng hạn, trường biểu niệm trông, mong, nhớ đã tạo nên sự thành công của bài "Thăm lúa" trong việc thể hiện phẩm chất hi sinh, thủy chung, chờ đợi của người phụ nữ Á Đông.
            Người ta bảo không trông/Ai cũng nhủ đừng mong/Riêng em thì em nhớ.
                                                 (Theo Trần Hữu Thung, Tiếng Việt 5 nâng cao, tr.93)
            Trường biểu niệm trong miêu tả giúp tạo nên tính tạo hình và tính cảm xúc cho văn bản, thuyết phục người đọc đi theo mạch cảm xúc chủ đạo của người viết, dẫn đến kết luận một cách tự nhiên, phù hợp với ý đồ người viết.
            Trong cùng một đoạn văn, bài văn miêu tả, việc xuất hiện liên tục và nối tiếp các từ ngữ cùng trường nghĩa sẽ giúp cho đối tượng miêu tả hiện lên một cách toàn diện, lập luận sẽ rõ ràng hơn, chặt chẽ hơn, hướng đến duy nhất một kết luận về đối tượng miêu tả. Việc lựa chọn, sử dụng các từ ngữ miêu tả cùng trường nghĩa giúp HS khắc họa rõ nét về đối tượng miêu tả, thể hiện được cảm xúc một cách chân thật, hướng người đọc đi đến kết luận về đối tượng miêu tả theo ý đồ của mình.
              Biện pháp này phải được tiến hành đồng bộ trên giờ học Tập làm văn, Mở rộng vốn từ, Tập đọc, Kể chuyện… Để HS có khả năng lựa chọn sử dụng các từ ngữ cùng trường nghĩa khi miêu tả thì phải giúp các em có một vốn từ phong phú, đa dạng, có tính thường trực. Muốn vậy HS phải được luyện tập phát triển vốn từ và hiểu nghĩa từ dựa trên các trường nghĩa thông qua hệ thống bài tập. Ngoài ra, GV có thể hướng dẫn HS tích lũy vốn từ theo chủ đề (trường biểu vật) vào "sổ tay dùng từ" sau mỗi giờ giờ Tập đọc, Kể chuyện. Chẳng hạn, các bài tập sau có thể sử dụng để phát triển vốn từ theo trường nghĩa cho HS.
            Ở giờ Mở rộng vốn từ, GV có thể sử dụng các bài tập sau đây:
            Ví dụ 1: Gạch bỏ ba từ ngữ không dùng để miêu tả màu lúa chín: vàng xuộm, vàng khè, vàng óng, vàng tươi, vàng giòn, vàng rực, vàng ươm, vàng vọt, vàng ợt, vàng như nắng mai
            Ví dụ 2: Tìm những từ ngữ chỉ màu trắng dùng để tả:
                  a. Màu mây trời                            M: trắng nõn, trắng như bông
                  b. Màu của hoa                            M: trắng muốt
                  c. Màu của da người ốm   M: trắng bệch
            Ví dụ 3: Chọn các từ chỉ màu trắng thích hợp trong ngoặc đơn, điền vào từng chỗ trống trong bài thơ sau:
            Tuyết rơi … một màu/Vườn chim chiều xế … cánh cò/   Da … người ốm o/Bé khỏe đôi má non tơ …/Sợi len …. như bông/Làn mây …. bồng bềnh trời xanh/.... đồng muối nắng hanh/Ngó sen ở dưới bùn tanh …../Lay ơn …. tuyệt trần/Sương mù ….. không gian nhạt nhòa/Gạch men …. nền nhà/Trẻ em ….. hiền hòa dễ thương.
            (trắng bệch, trắng trẻo, trắng bóng, trắng đục, trắng xóa, trắng phau, trắng ngần, trắng nõn, trắng tinh, trắng bạc)
            Cho HS phát triển vốn từ theo hướng này vừa tạo nên được sự phong phú, đa dạng về vốn từ, lại phát triển được khả năng hiểu và cảm nhận nghĩa từ tinh tế, từ đó, HS có thể huy động từ theo ý đồ lập luận của mình khi nói, viết.
             Bên cạnh việc phát triển vốn từ theo các trường biểu vật, biểu niệm, HS cần phải tập cảm nhận cái hay, cái đẹp của các văn bản miêu tả có sử dụng các trường ngữ nghĩa định hướng lập luận. Chẳng hạn, HS cần thực hiện các bài tập đọc hiểu sau qua giờ Tập đọc:
            Ví dụ 1: Trong đoạn văn dưới đây, tác giả dùng những từ ngữ nào để gợi tả hình dáng con chim gáy? Cách dùng từ ngữ như vậy đã giúp em hình dung được con chim gáy như thế nào?
            Con chim gáy hiền lành, béo nục. Đôi mắt nâu trầm ngâm ngơ ngác nhìn xa, cái bụng mịn mượt, cổ yếm quàng chiếc tạp dề công nhân đầy hạt cườm lấp lánh biêng biếc. Chàng chim gáy nào giọng càng trong, càng dai thì quanh cổ càng đeo nhiều vòng cườm đẹp.                                                                (Theo Tô Hoài, Tiếng Việt 4, tập 2, tr.130)         
            Ví dụ 2: Cách sử dụng từ ngữ tả các cơn gió trong những đoạn văn sau có gì hay ?
            a) Những cơn gió sớm đẫm mùi hồi, từ các đồi trọc Lộc Bình xôn xao xuống, tràn vào cánh đồng Thất Khê, lùa lên những hang đá Văn Lãng trên biên giới, ảo xuống Cao Lộc, Chi Lăng.                                                 (Theo Tô Hoài, Tiếng Việt 3, tập 1, 97)
            b) Gió tây lướt thướt bay qua rừng, quyến theo hương thảo quả đi, rải theo triền núi, đưa hương thảo quả ngọt lựng, thơm nồng vào những thôn xóm Chin San.
                                                                     (Theo Ma Văn Kháng, Tiếng Việt 5, tập 1, tr.113)
            Trong giờ Tập làm văn, GV hướng dẫn HS lựa chọn từ để để định hướng lập luận vào các thời điểm quan sát tìm ý, viết đoạn văn, bài văn. HS phải căn cứ vào định hướng lập luận và đối tượng miêu tả cụ thể để lựa chọn, sử dụng từ ngữ miêu tả phù hợp và chính xác, tinh tế thì bài viết mới có lập luận chặt chẽ, đối tượng miêu tả hiện lên sinh động, có nét riêng, độc đáo, thể hiện sự sáng tạo cá nhân.
            Ví dụ:
            - Tả ngoại hình con người cũng có biết bao từ ngữ khác nhau để tả: cao, thấp, gầy, béo, dong dỏng, mảnh dẻ, mảnh mai, thon thả, trắng trẻo, hồng hào, gầy gò, vạm vỡ… hướng đến những kết luận khác nhau về ngoại hình của đối tượng miêu tả.
            - Tả bà cụ: da đồi mồi, lưng còng, tóc bạc, miệng móm mém nhai trầu, tay chống gậy, từng bước khó nhọc, lom khom…(hướng đến kết luận đã già, yếu) hoặc lưng vẫn thẳng, da dẻ vẫn hồng hào, tóc chưa bạc, tay thon thả…(hướng đến kết luận vẫn khỏe mạnh, nhanh nhẹn)
            - Tả em bé: bụ bẫm, má căng tròn, chân tay mập mạp, tóc đen… hướng đến kết luận em bé khỏe mạnh hoặc gầy gò, da đen hoặc xanh, tóc dựng đứng, vàng hoe… hướng người đọc đến kết luận là em bé ốm yếu.
            - Tả con sông: đỏ đục, oặn mình qua những cánh đồng hoang (gợi lên cuộc sống khó khăn, vất vả, đau thương, …); dòng sông như dải lụa mềm, nũng nịu uốn mình giữa đồng lúa chín (thể hiện cuộc sống thanh bình, ấm no…).
            Như vậy, HS biết sử dụng từ ngữ cùng trường nghĩa là các em đã biết sử dụng một loại dấu hiệu giá trị học để định hướng lập luận khi miêu tả.
            2.4. Biện pháp 4: Luyện tập định hướng lập luận qua việc sử dụng từ ngữ biểu cảm khi miêu tả
            - Ý nghĩa của biện pháp:
            Từ ngữ biểu cảm là một bộ phận từ ngữ của tiếng Việt có sức gợi tả, gợi cảm cao, là phương tiện miêu tả hiệu quả. Nó bao gồm nhiều loại, nhưng đặc trưng nhất, theo chúng tôi, là từ láy. Việc sử dụng các từ láy một cách tinh tế khi miêu tả có giá trị định hướng cảm xúc của người đọc. Đây là giải pháp giúp bài văn miêu tả giàu cảm xúc, thể hiện sâu sắc thái độ, tình cảm của người viết về đối tượng miêu tả, định hướng được kết luận của người đọc về đối tượng miêu tả.
            - Nội dung của biện pháp:
            Biện pháp này cũng phải được tiến hành đồng bộ từ cả phương diện tiếp nhận và sản sinh ngôn bản, tức là ở cả ở giờ Mở rộng vốn từ, Tập đọc,Tập làm văn và Kể chuyện.
            Có thể tiến hành thông qua các dạng bài tập sau:
            Ví dụ 1: Em hãy cho biết câu văn nào hay hơn, vì sao?
            a) Đám mây lốm đốm, xám như đuôi con sóc nối nhau bay quấn sát ngọn cây, lê thê đi mãi, bây giờ cứ loáng thoáng nhạt dần, thỉnh thoảng đứt quãng, đã lồ lộ đàng xa một bức vách trắng toát.
            b) Đám mây trắng như đuôi con sóc nối nhau bay quấn sát ngọn cây, đi mãi, bây giờ cứ nhạt dần đứt quãng, đã lộ đàng xa một bức vách trắng toát.
            Nhờ sử dụng các từ láy có tính tạo hình cao lốm đốm, lê thê, loáng thoáng, thi thoảng, lồ lộ hình ảnh, sự di chuyển của đám mây hiện lên rõ ràng: lốm đốm trên nền trời, dài lê thê, lúc nhạt lúc đậm, lúc nối liền lúc đứt quảng, cuối cùng lại trở thành một tảng mây lớn màu trắng hiện lên như một bức vách. Hình ảnh những đám mây rong ruổi trên cao rồi lại sà xuống thấp màu trắng kì lạ như trên dẫn đến kết luận về một bầu trời thanh bình, cuộc sống nhẹ nhõm, bình yên. Câu văn thứ hai kém tính sống động, tạo hình, tính nhạc điệu, đám mây hiện lên như một dãi trắng, cuốn sát ngọn cây, rồi lại đứt quảng, cuối cùng thì như một bức vách trắng toát. Không tạo cho một người đọc đi đến kết luận về một bầu trời đẹp, một ngày bình yên mà chỉ dẫn đến kết luận về hình ảnh một đám mây lạ.
            Bài tập trên cho thấy, việc sử chính xác các từ láy có giá trị biểu cảm cao cũng góp phần làm rõ mục đích lập luận trong câu văn miêu tả trên, người đọc cảm nhận được sâu sắc hơn về nhận định, cảm xúc, tình cảm tác giả muốn gửi gắm.
            Ví dụ 2: Các từ láy được in đậm trong đoạn văn sau giúp em rút ra kết luận gì về tâm trạng của cậu bé học trò?
            Hằng năm cứ vào cuối mùa thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại náo nức những kỷ niệm mơn man của buổi tựu trường.
            Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cánh hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.
            Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi chưa biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè dưới nón mê lần đầu tiên đi đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã.
            Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tôi tự nhiên thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: hôm nay tôi đi học.                                                 
                                                                (Theo Thanh Tịnh, Tiếng Việt 3, tập 1, tr.51)
            Bài văn "Nhớ lại buổi đầu đi học" ghi lại những cảm tưởng đầy xúc động về ngày đầu tiên đến trường của một chú bé. Trong bài văn, đã sử dụng rất nhiều từ láy: bàng bạc, rụt rè, âu yếm, mơn man, tưng bừng, rộn rã để diễn tả tâm trạng náo nức pha chút lo âu của cậu bé. Với đề bài này, HS thấy được giá trị diễn tả và lập luận của các từ láy. Từ đó, có thể học tập vận dụng vào bài Tập làm văn của mình.
            Ngoài ra, có thể sử dụng những bài tập dạng yêu cầu tạo lập văn bản.
            Chẳng hạn, em hãy lựa chọn các từ chỉ màu xanh để viết một đoạn văn tả khu vườn vào một buổi sáng mùa xuân.
            Hoặc: Cánh đồng lúa chín, trưa hè, thật rực rỡ. Em hãy lựa chọn những từ gợi tả màu vàng và viết một đoạn văn ngắn tả lại không gian rực rỡ này.
            Từ các ví dụ trên, ta thấy, để giúp HS biết khai thác sử dụng các từ ngữ biểu cảm làm công cụ định hướng lập luận trong miêu tả, GV có thể tổ chức cho các em thao tác trên bài tập sử dụng từ ngữ biểu cảm. Hệ thống bài tập này có thể được xây dựng và sử dụng trên giờ Mở rộng vốn từ, Tập đọc, Tập làm văn.
            3. Kết luận:Theo ngữ dụng học, bên cạnh các hư từ (tác tử, kết tử), thực từ là dấu hiệu giá trị học, có vai trò quan trọng trọng việc định hướng lập luận cho văn bản, thuyết phục người đọc đi đến những kết luận mà người viết mong muốn. Bài viết của chúng tôi vận dụng nghiên cứu của ngữ dụng học về phương tiện định hướng lập luận này vào việc xây dựng các biện pháp rèn luyện kĩ năng viết văn miêu tả cho HS lớp 4,5 nhằm giải quyết những khó khăn của HS trong quá trình tìm ý, sắp xếp ý, lựa chọn từ ngữ biểu đạt, thể hiện cảm xúc khi viết, duy trì cảm xúc chủ đạo của bài văn. Các biện pháp trên đã được thử nghiệm bước đầu tại các trường Tiểu học ở Nghệ An, Hà Tĩnh.
 
Tài liệu tham khảo:
[1] Đào Duy Anh (2008), Hán Việt từ điển giản yếu, NXB Khoa học xã hội.
[2]  Hoàng Phê (2012), Từ điển Tiếng Việt, NXB Từ điển Bách khoa.
[3] Nguyễn Trí (1999), Dạy học Tập làm văn ở Tiểu học, NXB Giáo dục.
[4] Đỗ Hữu Châu (2002), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, Ngữ dụng học, Nxb Giáo dục.
[5] Chu Thị Thủy An - Hồ Thanh Yến (2011), Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng lập luận trong làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4, Tạp chí Giáo chức Việt Nam, số 56, tr 24-27.
[6] Lê Phương Nga (2012), Tiếng Việt 5 nâng cao, NXB Giáo dục Việt Nam.
[7] Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên) (2013), Tiếng Việt 3, tập 1-2, NXB Giáo dục Việt Nam.
[8] Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên) (2013), Tiếng Việt 4, tập 1-2, NXB Giáo dục Việt Nam.
[9] Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên) (2013), Tiếng Việt 5, tập 1-2, NXB Giáo dục Việt Nam.
 
* Bài đã đăng ở Tạp chí Giáo dục, số 402, kì 2 tháng 3/2017, tr.36 -41.