PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC LẬP LUẬN CHO HỌC SINH TIỂU HỌC THÔNG QUA THỂ LOẠI VĂN VIẾT THƯ

                                                        

PGS.TS. Chu Thị Thủy An - Trường Đại học Vinh


Tóm tắt: Trên cơ sở xác định lại những đặc trưng của văn viết thư, vị trí của văn viết thư trong hệ thống các thể loại văn ở tiểu học, bài viết đã phân tích sự phù hợp của việc ứng dụng lí thuyết lập luận vào dạy văn viết thư ở tiểu học. Từ đó, đã đưa ra các đề xuất về việc phát triển năng lực lập luận cho học sinh tiểu học thông qua dạy học văn viết thư.
 
1.Năng lực (competency) là một khái niệm có nguồn gốc từ tiếng Latinh “competentia”. Năng lực có thể hiểu là sự thành thạo hay khả năng thực hiện một công việc nào đó. Là đối tượng của tâm lí học, giáo dục học, năng lực được mô tả là một thuộc tính tâm lí phức hợp, hội tụ nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm. Phát triển năng lực người học (competency - based approach) là định hướng cơ bản, then chốt trong dạy học nói chung, dạy học tiếng mẹ đẻ nói riêng ở nhiều quốc gia trên thế giới. Đề án Đổi mới chương trình và SGK giáo dục phổ thông sau năm 2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng nhấn mạnh việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông theo hướng phát triển năng lực người học. Năng lực lập luận là năng lực sử dụng những lí lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đó mà người nói muốn đạt tới. Năng lực lập luận, thuyết phục là một thành tố cơ bản trong cấu trúc năng lực giao tiếp, một năng lực quan trọng cần hình thành ở  người học. 
2.Thư là một hình thức trao đổi thông tin gián tiếp bằng văn bản viết giữa những người ở xa nhau hay ở gần nhưng không có điều kiện gặp nhau hoặc vì một lý do nào đó không muốn gặp nhau. Xã hội càng hiện đại thì vai trò của việc giao tiếp gián tiếp thông qua thư tín càng quan trọng. Vì vậy, việc phát triển năng lực giao tiếp thông qua hình thức viết thư cho học sinh càng được coi trọng. Tuy nhiên, hiện nay, ở cấp tiểu học, việc dạy văn viết thư cho học sinh đang được tiến hành chủ yếu là theo kinh nghiệm, chưa có một cơ sở lí luận cụ thể. Các nhà nghiên cứu vẫn chưa thống nhất quan điểm về vị trị của văn viết thư trong hệ thống các thể loại văn bản và vì thế chưa chỉ ra được các đặc điểm ngôn ngữ, đặc điểm giao tiếp của văn viết thư cũng như qui trình day học văn viết thư cho học sinh tiểu học. Tác giả Lê Phương Nga cho rằng: “viết thư được xem là hình thức trung gian giữa văn bản nhật dụng và văn nghệ thuật được dạy ở tiểu học”[5.120] Mặt khác,“thư cũng có thể được xem là văn bản thông thường nhưng những nội dung trong thư phong phú hơn. Đó có thể là thư thăm hỏi, thư làm quen, thư kể việc. Cho nên trong các loại văn bản thông thường, thư tạo điều kiện cho học sinh sáng tạo, viết nhiều ý riêng của mình. Để viết được một bức thư hay, học sinh cần thể hiện sự quan tâm, tình cảm tha thiết đối với người nhận thư. Lời lẽ trong thư phải phù hợp hơn với vai của người viết”.[5.142] 
Thực ra, xét về mặt phong cách ngôn ngữ học, thư thuộc phong cách ngôn ngữ sinh hoạt. Vì vậy, văn viết thư có những đặc điểm khác biệt so với các văn bản thông thường như đơn từ, lý lịch, biên bản. Các loại văn bản này thuộc phong cách ngôn ngữ hành chính – công vụ (có tính lô gic, khách quan và khuôn mẫu). Phân môn Tập làm văn ở tiểu học  xếp viết thư, tin nhắn, đơn từ, lí lịch, biên bản… vào cùng một nhóm và gọi là văn bản nhật dụng là chưa chú ý đến sự khác nhau về mặt đặc điểm ngôn ngữ và chức năng giao tiếp của chúng. Tính cá thể, cụ thể và tính cảm xúc trong ngôn ngữ của  văn viết thư làm nên đặc trưng riêng của thể loại này so với các loại văn bản nói trên, khiến các nhà nghiên cứu thấy nó như là thể loại trung gian giữa ngôn ngữ hành chính và ngôn ngữ nghệ thuật.
3. Đặc điểm của văn viết thư
3.1. Thư  có nhiều loại và được phân loại dựa vào mục đích giao tiếp
Mục đích viết thư của con người khi giao tiếp rất phong phú, đa dạng và sinh động. Dựa vào mục đích giao tiếp người ta có thể phân thư ra làm nhiều loại: có loại thư thăm hỏi, chúc mừng, chia buồn; có loại thư tâm sự, giãi bày tình cảm; có loại thư bàn công việc trong gia đình, trong cộng đồng; có loại thư dùng trong công việc ngoại giao hay kinh doanh... Chính mục đích giao tiếp, trao đổi của bức thư là mục đích lập luận, thuyết phục, nội dung và hình thức của bức thư phải thõa mãn cao nhất mục đích đó. 
3.2. Thư là loại văn bản dùng để giao tiếp gián tiếp (khi người viết và người đọc không có điều kiện giao tiếp trực tiếp) nên việc sử dụng các từ ngữ, các cấu trúc ngữ pháp, các tác tử, kết tử lập luận khi diễn đạt rất quan trọng. Điều này sẽ giúp người đọc hiểu được nội dung, tư tưởng tình cảm, quan điểm đánh giá mà người viết muốn gửi đến mình.
3.3.Thư bị chi phối nhiều bởi đặc điểm của đối tượng giao tiếp, của người đọc hơn các loại văn bản khác. Đối tượng giao tiếp của văn viết thư bao giờ cũng được xác định cụ thể, người viết thư phải nắm vững hoàn cảnh, tâm lí, tình cảm, đặc điểm của người đọc để từ đó, xác định rõ nội dung cần viết, cũng như cách viết để bức thư phù hợp với người nhận. Đặc điểm của người đọc chi phối chặt chẽ nội dung và hình thức bức thư. Trong khi đó, văn miêu tả, kể chuyện… đối tượng giao tiếp thường mang tính chất chung, hướng đến nhiều đối tượng, không chi phối mật thiết đến việc lựa chọn nội dung và hình thức diễn đạt của bài văn bằng văn viết thư. 
3.4. Như trên đã nói, ngôn ngữ được sử dụng trong thư mang phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (hay còn gọi là khẩu ngữ) với tính cá thể, tính cụ thể và tính cảm xúc.
- Tính cá thể: thể hiện ở vẻ riêng của ngôn ngữ mỗi người khi trao đổi, tâm sự, chia sẻ thông tin với người khác qua nội dung thư. Trong thực tế, không ai viết giống ai, mỗi người có đặc điểm riêng trong lời nói, có nét riêng trong phong cách sử dụng ngôn ngữ của mình.  
- Tính cụ thể: văn viết thư nói riêng hay ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày nói chung có lối nói cụ thể, sinh động làm cho sự vật không phải chỉ được gọi tên mà còn được hiện lên với những hình ảnh, âm thanh, màu sắc rõ rệt. Tính cụ thể làm cho sự trao đổi thông tin giữa người viết và người nhận trở nên dễ dàng, nhanh chóng, kể cả trong những trường hợp phải đề cập đến vấn đề trừu tượng.
- Tính cảm xúc: Muốn đạt được mục đích giao tiếp, bức thư phải thuyết phục được tình cảm của người đọc. Cho nên tình cảm trong thư phải chân thành.Tính cảm xúc thống nhất với tính cụ thể. Ngôn ngữ trong văn viết thư là ngôn ngữ đời sống thực, cụ thể, sinh động, truyền đạt những tư tưởng, tình cảm hết sức phong phú, đa dạng của con người. Vì vậy, luôn mang đến tính cảm xúc tự nhiên. Chính thái độ, tình cảm, cảm xúc làm thành nội dung biểu hiện bổ sung của ngôn ngữ trong văn viết thư. Chính nó đã đem lại cho văn viết thư cái ý nhị, duyên dáng, sâu xa, hấp dẫn, vốn là những nét đẹp trong cách cảm, cách nghĩ của những con người cụ thể. Ngôn ngữ trong văn viết thư trở thành nơi quy tụ những tinh hoa của tiếng nói dân tộc, văn viết thư trở thành thể loại văn mang đặc điểm văn hóa của từng dân tộc. 
  Chính những đặc điểm ngôn ngữ này làm cho văn viết thư gần gũi với các văn bản nghệ thuật.Văn viết thư cũng như các thể loại văn nghệ thuật như kể chuyện, miêu tả... luôn “thấm đẫm” tư tưởng, tình cảm, ý đồ, quan điểm lập luận, thuyết phục của người viết.
4. Từ những phân tích trên đây, chúng ta thấy, có thể vận dụng lí thuyết lập luận của ngữ dụng học vào việc đề xuất các biện pháp phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh thông qua thể loại văn viết thư.
4.1.Giúp học sinh nắm được các yêu cầu cơ bản khi viết một bức thư. Phải xuất phát từ những yêu cầu đơn giản, sau đó, đến những yêu cầu phức tạp. Chẳng hạn, ở lớp 2 -3, chỉ dừng lại ở việc rèn cho học sinh viết phong bì thư, nắm được kết cấu và nội dung cơ bản của một bức thư. Lên lớp 4, phải giúp học sinh phân biệt được sự khác nhau về mục tiêu của các bức thư và lựa chọn, sắp xếp các chi tiết nội dung, cũng như cách diễn đạt phù hợp với mục tiêu là thăm hỏi hay làm quen hay trao đổi công việc…
4.2. Tổ chức cho học sinh tìm ý (tìm các luận cứ. kết luận), sắp xếp ý (sắp xếp các luận cứ, kết luận) phù hợp với các loại văn viết thư vốn được phân loại theo mục đích giao tiếp. Mỗi loại  thư có một mục đích giao tiếp, mục đích lập luận khác nhau. 
Việc bám vào mục đích viết thư giúp cho bài văn được đầy đủ ý, diễn đạt mạch lạc, các ý triển khai lôgic, khoa học và đúng đặc trưng của từng loại thư. Trình tự sắp xếp ý, liên kết các ý trong thư, đặc biệt là ở phần chính của bức thư, là yếu tố thể hiện rõ nhất ý đồ lập luận của người viết. Tùy loại thư, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh sắp xếp nội dung thăm hỏi trước, sau đó là kể, động viên, chia buồn, an ủi hay trao đổi công việc…hoặc ngược lại, tránh trường hợp vừa thăm hỏi vừa xen lẫn kể chuyện, chia buồn…làm cho nội dung bức thư thiếu logich, thiếu chặt chẽ không thuyết phục được người đọc.
Chẳng hạn, với đề bài yêu cầu viết thư thăm hỏi: “Nhân dịp năm mới, hãy viết  thư gửi một người thân (ông bà, cô giáo cũ, bạn cũ, …. ) để thăm hỏi và chúc mừng năm mới”, một học sinh đã lựa chọn và sắp xếp các ý như sau:

Thành phố Hồ Chi Minh ngày 15 tháng 10 năm 2014


            Cô kính mến! 
Nhân dịp chuẩn bị đón năm mới! Hôm nay, em viết thư thăm cô và kính chúc cô cùng gia đình luôn mạnh khỏe và gặp nhiều điều tốt lành. 
Dạo này cô có khỏe không? Công việc của cô thế nào? Ở lớp cô chủ nhiệm, các bạn chắc là ngoan lắm phải không cô? Tết sắp đến rồi cô đã chuẩn bị gì chưa? 
Ở quê cô Tết chắc là vui lắm đây. Mọi người trong gia đình tranh thủ làm mứt dừa, mức me, nào là gói bánh tét, bánh ít, trang trí cây mai trước nhà, chăm sóc những khóm hoa vạn thọ quanh nhà và đặc biệt là không thể thiếu món thịt kho hột vịt kèm với củ kiệu, cải làm chua. Ôi Tết thật là thích! 
Từ ngày xa trường, em luôn nhớ tới cô. Em nhớ những câu chuyện cô kể trong những lúc giảng bài, nhớ những buổi học tập ngoại khóa đầy hứng thú.Cô đã dạy cho chúng em những điều hay, lẽ phải, cô đã gợi cho em nhiều ước mơ. Cô chính là người mẹ hiền thứ hai mà em luôn yêu quý.
Nếu có thời gian, Tết này em sẽ cùng ba mẹ về quê thăm cô. Một lần nữa, em kính chúc cô và gia đình một năm mới mạnh khỏe, an khang thịnh vượng và đạt được nhiều thành tích trong nhiệm vụ cao cả của mình. Em mong nhận được những lời dạy bảo của cô.
Kính thư!


Học trò cũ của cô: 

Nguyễn Gia Bảo

Các ý trong mỗi phần của bức thư hầu hết được học sinh triển khai theo mô hình: kết luận – luận cứ - kết luận. Các câu được in đậm trong bài là các kết luận.
4.3. Luyện tập cho học sinh sử dụng các từ ngữ (các dấu hiệu giá trị học), các tác tử, các kết tử lập luận phù hợp với  đối tượng giao tiếp để thuyết phục được tình cảm của người đọc. 
Trong văn viết thư, luận cứ, kết luận đều có xen lẫn cảm xúc và sự cảm nhận chủ quan của chủ ngôn. Để thể hiện thành công điều này, học sinh cần biết sử dụng các yếu tố giá trị học phù hợp với đặc điểm người đọc để thuyết phục tình cảm của họ. Khi kĩ năng này được trau dồi, học sinh biết lựa chọn và sử dụng các từ ngữ giao tiếp đúng mực cũng như giữ cách xưng hô phù hợp trong quá trình giao tiếp. Đồng thời, vừa làm nổi bật mục đích, nội dung bức thư vừa có sự định hướng lập luận cao, tránh được tình trạng viết khuôn mẫu, sáo rỗng.
Trong sách Tiếng Việt 3, tập 2, trang 105, có đề bài:Viết một bức thư ngắn (khoảng 10 câu) cho một bạn nước ngoài để làm quen và bày tỏ tình thân ái.
Gợi ý:
a.Lí do em viết thư cho bạn:
- Em biết tin về bạn hoặc nước bạn qua báo chí, đài phát thanh, truyền hình, phim ảnh, …
-  Em viết về nước bạn qua các bài học, thông tin.
b.Nội dung bức thư:
-   Em tự giới thiệu về mình.
-   Hỏi thăm bạn.
-  Bày tỏ tình cảm của em đối với bạn
Với đề bài này, giáo viên đã yêu cầu học sinh xác định đích lập luận trên cơ sở phân tích đề bài, dựa vào các câu hỏi gợi ý để làm rõ yêu cầu của đề. Từ đó, lựa chọn các chi tiết, sắp xếp ý tự giới thiệu về mình sao cho đầy đủ nhưng súc tích. Đặc biệt, học sinh phải biết lựa chọn từ ngữ xưng hô phù hợp, sử dụng những hình ảnh, dùng từ ngữ gợi tả về bạn hoặc đất nước bạn làm cho người đọc như chứng kiến được, cảm nhận được nét đẹp về bạn hoặc phong cảnh đất nước bạn. Ngoài ra, phải lưu ý học sinh khi viết phải bày tỏ tình cảm của mình một cách chân thành, tự nhiện, đúng mực làm sao thuyết phục được người nhận thư cũng như người nghe. Với định hướng trên, học sinh viết được đoạn văn như sau:

Bạn Na-ka-ru-ma thân mến!
Mình tên là Nguyễn Ngọc Ái Phương học sinh lớp 3A trường Tiểu học Lâm Văn Bền, thị trấn Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam. Hôm thứ hai tuần rồi, mình thây bạn xuất hiện trên tivi qua làn sóng VTV3 với một gương mặt dễ thương. Bạn đã vẽ được một bức tranh thật có ý nghĩa về nội dung “Tác hại của chất phóng xạ” từ hai quả bom nguyên tử mà đế quốc Mĩ đã ném xuống trên đất bạn hồi Chiến tranh thế giới thứ hai. Bức tranh mang một thông điệp thật lớn lao phản đối chiến tranh và ước mơ của tuổi thơ được sống trong hạnh phúc hòa bình.
 Mình rất thích môn vẽ Na-ka-ru-ma ạ! 
Bạn là một cô bé đang vượt lên trên số phận của mình. Tác hại của chất phóng xạ đã làm cho đôi chân của bạn không bình thường như chúng mình, nhưng ý chí và nghị lực của bạn thật đáng cho trẻ em trên toàn thế giới khâm phục. Bức thư này, mình muốn bày tỏ sự cảm phục của mình đối với bạn và muốn làm quen với bạn, để từ đây chúng mình có thể trao đổi với nhau qua những bức thư ngắn ngủi như thế này Na-ka-ru- ma nhé! Mình xin dừng bút đây. Chúc bạn thành công trong nghệ thuật hội họa.
                                           

Bạn mới quen: Nguyễn Ngọc Ái Phương

Việc sử dụng các quan hệ từ, các phụ từ, các tình thái từ (kết tử và tác tử lập luận) phù hợp với đối tượng giao tiếp trong văn viết thư cũng hết sức quan trọng. Nó tạo sự liên kết chặt chẽ trong bài làm, giúp học sinh thể hiện được tình cảm, cảm xúc, thái độ dành cho người nhận thư. Bài văn viết thư có thuyết phục được tình cảm của người nghe, người đọc có thành công hay không đòi hỏi phải sử dụng hợp lí các quan hệ từ khi viết thư. Các quan hệ từ thường gặp trong văn viết thư như: vì, tại vì, vả lại, hơn nữa, chẳng những… mà còn, đã … lại…; nên, cho nên, vậy, dù thế nào, dù sao cũng … ngoài vai trò là công cụ nối kết luận cứ và kết luận còn là yếu tố định hướng lập luận, giúp người viết thuyết phụ người nghe đi đến kết luận theo ý mình. Các tác tử của lập luận cũng là các yếu tố khi đưa vào  thư sẽ làm thay đổi tiềm năng lập luận. Chẳng hạn, “đã…mới”; “mới … thôi”, chỉ,  những, là ít, là nhiều, lận, hà…Học sinh cần được luyện tập nhiều qua các bài tập sử dụng các tác tử trong thư, để giúp người đọc hiểu tâm tư, tình cảm của mình về các sự việc cụ thể, để thuyết phục người đọc thư đi đến đồng ý với kết luận của mình.
4.4. Các biện pháp nêu trên sẽ có hiệu quả cao nếu quy trình rèn luyện kĩ năng làm văn viết thư cho học sinh được tiến hành chặt chẽ, coi trong hoạt động thực hành, luyện tập viết thư với các đề bài cụ thể của học sinh. 
Bước 1: Tìm hiểu chung về văn viết thư
Bước 2: Tập xây dựng kết cấu của một bức thư
Bước 3: Tập viết một bức thư 
Bước 4: Tập trình bày bức thư và viết phong bì thư
Bước 5: Luyện tập viết các bức thư hoàn chỉnh với nhiều thể loại thư 
Ở bước 1, học sinh sẽ được hình thành những hiểu biết chung về văn viết thư: đặc điểm về đối tượng giao tiếp, cách thức giao tiếp, các loại thư, ngôn ngữ trong văn viết thư, kết cấu bức thư, phong bì thư.
Ở bước 2, học sinh sẽ được luyện tập kĩ năng xây dựng kết cấu một bức thư qua việc tìm các luận cứ, kết luận, sắp xếp các luận cứ, kết luận theo bố cục của một bức thư trên những đề bài cụ thể.
Ở bước 3, học sinh sẽ tập viết các bức thư, sau khi đã thành thạo kĩ năng xây dựng kết cấu các bức thư. Ở bước này, ngoài việc đánh giá về các luận cứ, kết luận, giáo viên sẽ lưu ý nhiều về việc sử dụng các yếu tố dấu hiệu giá trị học, các tác tử và kết tử lập luận… khi chấm và chữa bài làm.
Bước 4 là bước có yêu cầu rất đơn giản, học sinh tập viết bức thư trên loại giấy qui định và viết phong bì thư với chữ viết đúng mẫu, rõ ràng, đẹp.
Ở bước 5, học sinh được luyện tập viết các bức thư hoàn chỉnh, bao gồm thư, phong bì thư. Đề bài sử dụng ở bước này phải phong phú, đa dạng bao trùm hết các loại thư, đối tượng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp để học sinh có điều kiện rèn luyện và thể hiện năng lực lập luận, thuyết phục của mình ở nhiều hoàn cảnh, nhiều đối tượng nhận thư.
Tóm lại, là một trong những bài viết đầu tiên đề cập đến việc dạy học văn viết thư ở tiểu học một cách có hệ thống, bài viết này mong muốn giới thiệu đến những người quan tâm một quan điểm mới về văn viết thư và dạy học văn viết thư ở tiểu học.

Tài liệu tham khảo:
1. Chu Thị Thủy An, Hồ Thanh Yến (2011), “Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng lập luận trong làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4”, Tạp chí Giáo chức Việt Nam, số 56/2011.
2. Chu Thị Thủy An, Nguyễn Thị Thu Trang (2015), Rèn luyện kĩ năng lập luận khi làm văn kể chuyện cho học sinh lớp 4 trên cơ sở ứng dụng lí thuyết ngữ dụng học, Tạp chí Giáo dục số 351, tháng 2/2015.
3. Chu Thị Thủy An, Võ Thị Ngọc (2014), “Xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng lập luận cho học sinh lớp 4 qua giờ Tập làm văn”, Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt, 6/2014.
4. Đỗ Hữu Châu (2002), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, Ngữ dụng học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.


Bài đã đăng ở Tạp chí Giáo dục, số 370/2015tr.23-26.